Thế nào là suy thận cấp tính ?

Thế nào là suy thận cấp tính ?

Do viêm cầu thận thể tiến triển nhanh. Thường gặp thể viêm cầu thận hoại tử và ngoài màng trong bệnh cảnh viêm mạch hoại tử, hoặc viêm cầu thận tăng sinh trong và ngoài màng trong bệnh cảnh của lupus, ban xuất huyết dạng thấp. còn mặt khác suy thận cấp do viêm cầu thận thể tiến triển nhanh còn găp trong biểu hiện Goodpasture.

Viêm thận kẽ cấp:

Do Vi trùng: Viêm thận bể thận cấp.
Do Nhiễm độc thuốc: Thường qua chính sách miễn dịch-dị ứng. Ngoài suy thận cấp còn có tăng bạch cầu ưa acid trong máu và trong nước tiểu, ban đỏ da, huỷ các tế bào gan.
nguyên nhân sau thận (Suy thận cấp tắc nghẽn)
Thiểu niệu lúc lượng nước tiểu < 500ml/24 giờ (hoặc dưới 20ml / giờ), có khả năng bắt nguồn từ từ hoặc ngay vài ngày đầu khởi bệnh, trung bình kéo dài một – 2 tuần, khi thiểu niệu kéo dài trong suốt thời gian bên trên 4 tuần thì phải xem thận bị hoại tử vỏ, viêm cầu thận cấp thể tiến triển nhanh, viêm quanh tiểu động mạch máu thận, sỏi gây tắc niệu quản.
Vô niệu khi lượng nước tiểu < 100ml/24 giờ, theo Brenner và Rector thì hiếm xuất hiện, nhưng ở VN thì rất thường gặp, có thể nhiều ngày, chính vì nguyên do thiểu và vô niệu phải để cho urê, creatinine tăng cao nhanh trong máu.
biểu hiện trong mức độ này chủ yếu là biểu hiện tăng urê máu cấp gồm có các triệu chứng:
Về tiêu hóa: biếng ăn, bi thiết nộn, nôn mữa , táo bón hoặc ĩa chảy.
Về tim mạch: huyết áp tăng cao rất hay gặp ở những bệnh viêm cầu thận, sót lại là bởi lạm dụng dịch truyền gây ứ nước, muối, huyết áp tăng cao nặng, gây phù phổi, phù não.
Dấu thần kinh: có khả năng kích động vật vã, hôn mê, co giật, có khi không ổn định tâm thần.
Về hô hấp: Nhịp hô hấp toan kiểu Kussmaul hoặc Cheyne – Stokes, phù phổi, nhiễm vi khuẩn phổi.
Thiếu máu: Thường xuất hiện sớm nhưng vẫn không nặng lắm, lúc có thiếu máu nặng thì phải nghĩ đến nguyên do suy thận cấp là bởi xuất huyết nặng dai dẳng hoặc bệnh có suy thận mạn trước đấy.
Phù thường do bổ sung thêm nước khoáng hoặc truyền dịch quá nhiều, ngoài ra là phù nội sinh do giải phóng nước từ các hiện tượng phân hủy tổ chức, tế bào. Trong phần nhiều các tình huống hoại tử ống thận cấp thì ko phù.
nếu như có triệu chứng vàng thị giác, vàng da là biểu hiện của chấn thương nhẹ gan mật hay gặp do nguyên nhân Leptospirose, sốt rét đái huyết sắc tố.
Kali máu rất mất an toàn, về mặt lâm sàng thường thầm lặng rồi bất ngờ bộc phát rung thất, ngừng tim. Khi có Kali máu trên 5mmol/l phải quan sát và theo dõi kỹ điện tim & cách xử lý hạ Kali máu ngay bây giờ. Trên điện tim tăng Kali máu triệu chứng sớm là sóng T cao nhọn, đối xứng rồi QRS dài, PR dài, Bloc xoang nhĩ, mất sóng P rồi ngừng ngay tim có hoặc có thể là không qua mức độ rung thất. Trong suy thận cấp tính tăng Kali máu này càng nặng thêm do hiện tượng toan máu.
Kết quả hình ảnh cho suy thận cấp tính

Suy thận cấp chức năng với phù:

Suy thận cấp của biểu hiện gan thận cấp thường hiếm hồi phục & thường đột tử vì những hậu quả của xơ gan. tuy vậy, có thể thử khám chữa bằng Albumin nếu Albumin máu < 20g/l, phối hợp với lợi tiểu quai.
Trong trường hợp hội chứng thận hư, đặc biệt là khi giảm thể tích máu kéo dài, việc truyền Albumin và dùng thuốc lợi tiểu đôi lúc là điều chỉnh công dụng & làm mất tích phù.
Trong tình huống suy thận cấp sau suy tim có thể điều chỉnh bằng chữa bệnh suy tim.
tình huống quan trọng do thuốc tức chế men chuyển và thuốc kháng viêm chưa hẳn steroide:
ngừng thuốc.
Chung cho các suy thận cấp công dụng, để nâng huyết áp, cũng tương tự tác dụng lợi tiểu có thể sử dụng những thuốc sau:
Isuprel 0,2 – 0,6mg – 1mg trong 1000ml glucose đẳng trương truyền tĩnh mạch.
Dopamin 3 – 5(g/kg/phút cho những người nặng 50 kg truyền với glucose 5%.
mặt khác có thể dùng những dung dịch với phân tử lượng lớn như Dextran, Manitol 20% 300 – 500ml/ngày, thậm chí máu & những chế phẩm của máu để giữ thể tích máu đủ tưới cho cầu thận.
điều trị suy thận cấp thực thể
Giảm muối & nước:
Ở mức độ vô niệu, ăn nhạt toàn bộ, lượng nước kể cả dịch truyền và uống hàng ngày không thật 700ml ở người 50kg.
Ở mức độ thiểu niệu hoặc ngay ngày đầu vô niệu, có ứ nước ngoại bào:
Furosemid (Laxis, Lasilix) mỗi đợt 120 – 160mg, tiêm tĩnh mạch máu mỗi 3 – 4 giờ, liều cao nhất có khả năng đến 1000mg – 1500 mg/24h nhằm chuyển thể vô niệu sang thể đái nhiều. Furosemid thường thay đổi lượng nước tiểu mà không ảnh hưởng đến tính năng thận. Nếu dùng đủ liều lượng trong ngày mà vẫn không có lượng nước tiểu thì ngừng dùng.
lúc có tăng K máu
Dung dịch glucose 20% 500ml + 20đv Insulin truyền tĩnh mạch máu nhanh từ 60-90 phút.
Resine đàm đạo Cation như Resonium, Kayxelat (trao đổi 1-2mmol K+ /g resine): 10-15g x 2 – 3 lần/ngày.
Clorua calci 10% 5-10ml tiêm tĩnh mạch chậm 3-5 phút, lúc cấp cứu với điện tim có bloc xoang nhĩ, QRS giãn rộng hoặc K+ > 7mEq/l.
Dung dịch kiềm 14‰ cứ 5 phút thì truyền 44 mmol, nếu bệnh phù và huyết áp tăng thì sử dụng loại kiềm ưu trương 4,2 % tiêm tĩnh mạch chậm.
những thuốc kích ứng β 2 adrénergique: Như salbutamol, làm giao vận kali vào nội bào.
 >> Xem thêm thuốc tri tiểu đêm nhiều lần tốt nhất: http://thuocbocaocap.net/thuoc-tri-tieu-dem-nhieu-lan-tot-nhat/
Loading Facebook Comments ...